Dựa trên những ly thuyết xã hội học, bài nhận thức này dự định để phát triển một khuôn khổ lý thuyết và những giả thuyết có khả năng ứng dụng kết nối mối quan hệ giữa những tính cách nhất định và sự thành công trong sự nghiệp. Mặc dù đã có một lịch sử dài về nghiên cứu của mối quan hệ giữa tính cách và sự thành công, điều quan trọng của điều này bị đánh giá thấp, và ngay lúc này là khoản khắc để khơi dậy tầm nhìn một cách tâm lý hơn về nghiên cứu nghề nghiệp. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra một số những tính cách khác nhau ( Nơi kiểm soát, tự chủ; lòng tự trọng, sự lạc quan và thủ đoạn) cùng với sự thể hiện công việc và môi trường phù hợp là những điều xác định cho việc thành công trong sự nghiệp. Dựa trên cách nhìn của lý thuyết xã hội học, kiến thức cho mới quan hệ này là luyện tập và giá trị lý thuyết cho mỗi cá nhân, những tổ chức, và những tư vấn nghề nghiệp.

images (1)

 Nghiên cứu về sự thành công trong nghề nghiệp có lợi cho cả mỗi cá nhân và những tồ chức (Aryee et al.,1994;schein, 1978). Tại mức độ cá nhân, thành công torng sự nghiệp đòi hỏi sự tiếp nhận được thuận lợi về vật chất, quyền lực, và sự thỏa mãn (Gattiker and Larwood, 1990, 1988; Judge et al., 1995; Poole et al., 1990). Kiến thức vể thành công trong nghề nghiệp giúp mỗi cá nhân phát triển một chiến lược cho sự phát triển nghề nghiệp (Aryee et al., 1994; Ellis and Heneman, 1990).  Tại mức độ của tổ chức, mối quan hệ giữa tính cách và thành công trong  nghề nghiệp giúp những nhà quản lý nhân sự thiết được những  hệ thống nghề nghiệp tốt nhất (Aryee et al.,1994). Mục đích của bài nghiên cứu này là phát triển một mô hình nhận thức và đưa ra những giả thuyết có thể áp dụng kết nối với tính cách và sự thành công trong nghề nghiệp tại một mức độ phân tích cá nhân (Gunz và Jalland, 1996).

Thành công trong nghề nghiệp

Dựa trên Judge et al. (1995), thành công trong nghề nghiệp được định nghĩa như là một kết quả tâm lý học có lợi hay là những sự thành công đạt được trong khoảng thời gian đi làm. Nó bao gồm 2 loại –  thành công trong nghề nghiệp khách quan và chủ quan (Aryee et al.,1994;Bretz and Judge,1994; Judge et al.,1995;Gattiker and Larwood, 1990, 1988; Korman et al., 1981; Poole et al.,1990). Thành công trong sự nghiệp khách quan là đạt được bởi những đo lường của giá trị bên ngoài như là chức danh, lương, hay đề cử (Gattiker and Larwood, 1990, 1988). Gần đây, các nhà nghiên cứu cũng tập trung vào yếu tố chủ quan, đề cập đến sự đánh giá sự đạt được từ nghề nghiệp (Gattiker and Larwood, 1989; Judge et al., 1995). Tuy nhiên, kinh nghiệm chủ quan không nhất thiết phải song song với đo lường của yếu tố khách quan.

career  success1

Tính cách: cách nhìn của xã hội ứng xủ học:

Các nhà nghiên cứu “ đồng ý tính cách được định nghĩa như một sự năng động và sắp xếp một nhóm các tính cách của một con người điều đó tạo nên mọt sự ảnh hưởng hoàn toàn riêng biệt vào anh/chị ấy về cách suy nghĩ, cách thúc đẩy bản thân và các cách ứng xử.” (Allport, 1961, p.28; Ryckman, 1997, p.5). Furnham (1990) phân tích lý thuyết tính cách thành 3 trường phái: Thuyết triết chung nhân từ được miêu tả là quá trình dài và đáng tôn kính của lý thuyết tính cách; những tín đồ cuồng tín hiện diện chỉ tin vào 1 lý thuyết họ nghĩ là họ tin; những nhà phân tích đầy nhiệt huyết phân tích lý thuyết dựa vào cội nguồn của họ. Ryckman (1997), người thuộc về trường phái thứ 3, phân loại lý thuyết tính cách thành 5 hướng khác nhau. Hướng phân tích tâm lý là sinh học và dựa trên những chuỗi các bước chưa được biết đến cho mỗi cách ứng xủ xảy ra (Ryckman, 1997). Hướng đặc điểm cho là “ những yếu tố được sắp đặt thường xuyên xác dịnh sự chỉ đạo trong sự biến đổi của các tình huống mỗi ngày (Furnham, 1990,p 923). Hướng nhận thức cho là tính cách của con người không bao giờ được xác định hoàn toàn; con người luôn luôn thay đổi và luôn tự do để xem xét lại những kinh nghiệm của họ theo một phong cách riêng (Ryskman, 1997). Hướng tồn tại định đề cho sự tồn tại của sự lờn lên bên trong, dẫn đưa con người đến sự nhận ra được những tiềm năng của họ nếu điều kiện môi trường hợp lý (Ryckman, 1997). Cuối cùng, hướng ứng xử xã hội cho là đa phần những ứng xử của chúng ta là học và có mục đích; chúng ta được dẫn đi bởi những lý do của chúng ta để đạt được những mục đích nhất định (Ryckman, 1997).

Không giống với nhà phân tích tâm lý học và hướng tồn tại, hướng ứng xử xã hội là không được xem đến trong bước phát triển. ngược lại, giống với hướng đặc điểm cho là tính cách đòi hỏi sự cân bằng và tính kiên định trong ứng xử của mỗi cá nhân (Snyder and Ickes, 1985). Tuy nhiên, hướng ứng xử xã hội khẳng định tính cách hay ứng xử của chúng ta là học, hơn là bẩm sinh.Kinh nghiệm của con người và những ảnh hưởng tiếp tục ảnh hưởng lẫn nhau (Rotter et al., 1972), và ứng xử xảy ra như là kết quả của sự phức tạp ảnh hưởng lên nhau giữa quá trình bên trong và những ảnh hưởng của môi trường (Bandura,1971).

Ảnh hưởng của tính cách với sự thành công trong sự nghiệp

Lựa chọn nghề nghiệp (Gattiker và Larwood, 1990), tiêu chuẩn thành công (Poole et al., 1990), hay nhân sự (Judge et al., 1995) là một số ví dụ của một số yếu tố quyết định của sự thành công trong nghề nghiệp đã được điều tra.Tuy nhiên, những ảnh hưởng của tính cách đối với sự thành công trong sự nghiệp là không đồng bộ. Furnham (1992, p.2) viết lại, “ Sự ảnh hưởng của một số khía cạnh của tính cách như là thủ đoạn, tự chủ, hay ứng xủ loại A, thường hay tạo cảm giác thích thú tạm thời, nhưng sẽ sớm quên”. Ông ấy đã phê bình việc nghề nghiệp của những chuyên gia tâm lý và lý thuyết tính cách đang hướng tới việc bỏ qua lẫn nhau.

Trong tầm nhìn của việc phát triển của nghiên cứu nghề nghiệp, Sonnenfeld và Kotter (1982) xác định 4 giai đoạn của lý thuyết nghề nghiệp. Giai đoạn đầu tiên là hướng tâm lý học tập trung vào sự khác biệt của việc sắp đặt tĩnh. Giai đoạn hai la hướng xã hội học, các tầng lớp xã hội học được xem là yếu tố quyết định cho kết quả của nghề nghiệp. Giai đoạn ba là sự hội tụ của hướng tâm lý học và hướng xã hội học. Giai đoạn bốn hướng đi hiện tại của nghiên cứu nghề nghiệp là bắt đầu từ hướng tâm lý với điều đáng quan tâm về mối quan hệ giữa những nghề nghiệp và những hoạt động quan trong khác trong cuộc sống (Arthur et al., 1989).

best-job-personality-happy

Hướng tâm lý trong quá khứ hình thành một khu vực cho những nghiên cứu về nghề nghiệp, nhưng nó đã thất bại trong cho sự ảnh hưởng cho yếu tố xã hội và môi trường (Bell and Staw, 1989). Hướng xã hội học đền bù cho những thiếu xót bằng việc xem sự phát triển nghề nghiệp là sự xã hội hóa (Schein, 1978). Các nhà xã hội học tin xã hội hóa giống như đất điêu khắc, sản sinh ra một sản phẩm giống nhau, không quan trọng là ai (Bell và Staw, 1989; Van Maanen and Schein, 1979). Bell và Staw (1989) viết tài liệu hiện tại cho thấy sự ảnh hưởng của tình huống trong việc tạo nên cách ứng xử, trong khi để ít sự chú ý cho vai trò của những biến của một người trong việc thể hiện ứng xử nghề nghiệp. Mặc dù nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tính cách với ứng xử nghề nghiệp là tuổi, số lượng biến của tính cách đã bị bỏ qua (Betz et al., 1989). Đây là thời gian để các nhà nghiên cứu tạo cách nhìn tâm lý của nghiên cứu nghề nghiệp (Bell và Staw, 1989).

Gần đây, những hứng thú trong phương pháp sắp đặt được sống lại  với ứng xử tổ chức (Kelduff và Day, 1994). Các nhà nghiên cứu lấy phương pháp sắp đặt để nhấn mạnh sự ảnh hưởng của sắp đặt lên quan điểm công việc và nhửng ứng xử nghề nghiệp khác (Staw et al, 1986). McCleland và Boyatzis (1982) đã tìm thấy mỗi cá nhân đứng ở vị trí sắp đặt cao sẽ thành công hơn trong việc leo lên chiếc thang của tổ chức hơn là những người khác. Andrisani và Nestel (1976) sử dụng đo lường của Rotter (1966) để xác nhận mỗi cá nhân với kiểm soát nội tâm bản thân cao làm nhiều tiền hơn và cho rằng vị trí cao hơn những người có điểm cao trong kiểm soát ngoại tâm. Turban và Dougherty (1994) cũng xác nhận sự liên kết của tính cách (bao gồm nơi kiểm soát, tự chủ, lòng tự trọng, ảnh hưởng xấu) với thành công trong nghề nghiệp.

images

 Nghiên cứu thành công trong nghề nghiệp: phương pháp gần bằng.

Nghiên cứu nghề nghiệp được hình thành trong những kỷ luật nhỏ đã bị tấn công với sự kêu gọi cho những mô hình thống nhất (Aryee et al., 1994; Schein, 1976; Vardi, 1980). Phương pháp xấp xỉ đưa ra bởi những nhà nghiên cứu bởi vì những nghề nghiệp không tồn tại một mình (Arthur et al., 1989; Aryee et al.,1994; Schein, 1976). Phương pháp xấp xỉ đề nghị sự phù hợp giữa người và môi trường. Holland (1973) đề nghị thỏa mãn nghề nghiệp và thành tích phụ thuộc vào sự xấp xỉ giữa tính cách con người và yếu tố môi trường. một môi trường không xấp xỉ thúc đẩy con người rời bỏ hoặc nhận định về thái độ của bản thân đối với nghề nghiệp (Spokane, 1985), trong khi một môi trường xấp xỉ thúc đẩy con người đạt thành tích (Gattiker và Larwood, 1990).

Thảo luận:

Phương pháp xã hội học: có ích

Có ích được định nghĩa như là một lý thuyết giá trị bao gồm những lời giải cho những hành động đối với những vấn đề trong thế giới thực (Brief and Dukerich, 1991). Sự cần thiết của có ích của lý thuyết là đáng tranh luận. Một số nhà thông thái cho rằng “ có ích là tiêu chuẩn cho việc đánh giá lý thuyết trong ứng xử tổ chức” (xem Brief và Dukerich, 1991). Những người khác cho rằng lý thuyết đáng giá không nên bị đánh giá bởi chính có ích của nó.

Mặc dù có ích không nên là một điều kiện cần thiết cho một lý thuyết tốt, chúng ta chú ý đến sự ứng dụng hay thực hành hơn là một chướng ngại trong phat triển lý thuyết (Brief và Dukerich, 1991; Thomas và Tymon, 1982; Zald, 1993). Dựa trên điều này, chúng ta bàn thảo và đánh giá phương pháp xã hội học như là căn bản cho việc hiểu sự ảnh hưởng của tính cách đối với thành công trong nghề nghiệp.

Bandura (1977a) chỉ định những tầm nhìn về ảnh hưởng tự nhiên của con người những khía cạnh nào đã được nghiên cứu, bằng chứng được thu thập dưới dạng nào, và ngay cả như thế nao mà lý thuyết được hình thành. Ông ấy chỉ trích hướng truyền thống như đang bị cản trở bởi những mô hình cơ học của thời kì trước về sự phát triển của tính cách và “ những niềm tin là con người sở hữu đặc điểm riêng hay sự sắp đặt khiến họ phải ứng xử phù hợp với hoàn cảnh bị thay đổi” (Bandura, 1977a, 1977b). Thêm vào đó, con người không chỉ đơn giản phản ứng với những yếu tố bên ảnh hưởng bên ngoài, nhưng cũng lựa chọn, sắp xếp và biến đổi kích thích để thay đổi tính cách và ứng xử (Bandura, 1977a, 1977b). Sự thừa nhận ảnh hưởng mạnh mẽ nghiên cứu sự có ích của tính cách cũng như ứng dụng thực hành của mô hình.

Ứng dụng:

Ứng dụng thực hành:

Từ hướng truyền thống, ứng dụng thực hành của việc nghiên cứu liên kết giữa tính cách và thành công trong nghề nghiệp xuất hiện rất giới hạn. Cho dù nếu các nhà nghiên cứu xác nhận một số đặc điểm tính cách là liên kết chặt chẽ với thành công trong nghề nghiệp, con người không có thể học như thế nào để phát triển tính cách để ảnh hưởng đến thành công trong nghề nghiệp. từ hướng nhìn này, mô hình được đưa ra, dựa trên lý thuyết xã hội học có ứng dụng thực hành.

Kiến thức cho là tính cách là yếu tố quyết định cho sự thành công trong nghề nghiệp là giá trị cho mỗi cá nhân, những tổ chức, và những tư vấn nghề nghiệp. Cho mỗi cá nhân, mô hình cung cấp lý do căn bản để thâm nhập vào điểm mạnh và yếu của tính cách để phát triển chiến lược nghề nghiệp phù hợp để dẫn đến sự thành công (Aryee et al,., 1994; Ellis và Heneman, 1990). Mô hình cũng cung cấp định hướng cho con người để học và thay đổi tính cách cho thành công trong nghề nghiệp (Bandura, 1977). Cho tổ chức, mô hình giúp ích cho toàn thể nguồn nhân sự thiết kế được những hệ thống nghề nghiệp có ích (Aryee et al., 1994) hay tạo nên những chiến lược nhân sự phù hợp, như là tuyển dụng, rèn luyện, và thăng tiến. Điều này cho thấy sự lo lắng và nuôi dưỡng tính cách của người lao động là quan trọng như là trí tuệ của họ và khả năng cho người thực hành trong quản lý nhân sự. cuối cùng, điều này cũng rất có ích cho những người tư vấn nghề nghiệp (Gattiker và Larwood, 1990) để giúp giúp khách hàng thâm nhập vào những con đường nghề nghiệp của họ liên quan đến những yếu tố tính cách. Điều này có ích cho làm việc với những người đang đối mặt với khó khăn trong vấn đề nghề nghiệp như là ứ đọng nghề nghiệp hay chuyển tiếp nghề nghiệp.

Reference:

Victor P.Lau, Margaret A.Shaffer (1999) “ Career success: the affect of personality” Journal career development international 225-230

comments powered by Disqus